Cách tính toán băng thông rộng cần thiết cho khả năng
Băng keo chiều rộng không nên chỉ chọn độ rộng của khe. Băng phải đủ rộng để che kín và tạo vùng bám chắc trên bề mặt. Có thể ước tính theo công thức: B = K + 2A , trong đó K là chiều rộng và A là vùng bám tối thiểu mỗi bên.
Vì sao phải tính đúng băng keo kinh tế?
Băng keo chiều rộng chắc chắn quyết định khả năng che phủ và tích hợp liên kết với bề mặt hai mặt. Băng quá hẹp dễ bong viền, mất kín nước; băng quá rộng không tối thiểu thiết bị tăng hiệu quả tương ứng nhưng làm tăng vật tư và có thể khó thi công ở vị trí phức tạp.
Một lỗi thường gặp là:
Chiều rộng 10 mm → chọn băng rộng 20 mm
Nhìn bằng mắt có vẻ đủ che khe, nhưng thực tế mỗi bên chỉ còn khoảng:
(20 – 10) / 2 = 5 mm
để lớp keo dán vào bề mặt.
Nếu khuIN này:
- Nước mưa.
- Nắng nóng.
- Co-chi.
- Thanh ngang.
- Bong mép.
- Chuyển động của khe.
thì vùng bám 5 mm mỗi bên có thể không tạo đủ biên độ.
Vì vậy, nguyên tắc quan trọng là:
Không tính toán băng rộng theo phần khe cần che, mà phải tính toán cả hai vùng liên kết.
Băng keo chiều rộng biểu thức có giá trị
Có thể sử dụng công thức B = K + A1 + A2 để xác định băng keo rộng có độ bền ban đầu. Với khe giữa băng và điều kiện hai bên tương đương, công thức được rút gọn thành B = K + 2A .
Trong đó:
- B: băng keo chiều rộng cần chọn, mm.
- K: chiều rộng vùng cần che, mm.
- A1: thứ nhất của vùng, mm.
- A2: thứ hai vùng, mm.
Nếu hai bên bằng nhau:
A1 = A2 = A
thì:
B = K + 2A
Ví dụ
Khe rộng:
K = 10 mm
Muốn tạo vùng:
A = 25 mm mỗi bên
Tối thiểu chiều rộng theo cấu hình học là:
B = 10 + (2 x 25) = 60 mm
Nếu kích thước băng thương mại gần nhất là 75 mm thì có thể chuyển đổi giá băng 75 mm thay vì cố gắng sử dụng băng 50 mm.
Điểm cần lưu ý: A không phải là một số ứng dụng thường xuyên cho mọi công việc . Khu vực cần thiết phải được xác định theo bề mặt, hệ keo, chuyển động khe và môi trường điều kiện.
Khu vực tập trung bên cạnh là gì?
Khu vực bám là phần băng keo thực sự tiếp xúc với bề mặt ổn định ở mỗi bên. Đây mới là khu vực tạo liên kết, trong khi phần băng trực tiếp trên khoảng thời gian yếu đuối đảm nhiệm công việc che phủ và thích nghi với chuyển động.
Mô hình đơn giản:
Chiều rộng băng B
<------------------------------>
| vùng bám | khe | vùng bám |
| A | K | A |
===============================
Bề mặt 1 Bề mặt 2
Làm như vậy:
Phần che khe không được tính là vùng bám.
Nếu khe rộng 20 mm và băng rộng 50 mm:
A = (50 – 20) / 2 = 15 mm
Nếu băng rộng 100 mm:
A = (100 – 20) / 2 = 40 mm
Băng thứ hai tạo ra các vùng liên kết lớn hơn đáng kể, nhưng vẫn phải xem xét khả năng thích nghi chuyển động và đặc tính của băng.
Cách tính toán vùng bám thực tế khi đã biết băng rộng
Khi đã có sẵn một khổ băng, có thể tính toán các vùng bám theo bên trong bằng công thức A = (B – K) / 2. Cách tính này rất hữu ích khi kiểm tra băng đang có tại công trường có đủ chiều rộng cho khe hay không.
Công thức:
A = (B – K) / 2
Ví dụ:
Băng rộng:
B = 100 mm
Khe:
K = 20 mm
Ta có:
A = (100 – 20) / 2 = 40 mm
Như vậy, nếu đặt khe ở giữa băng:
- 20 mm che khe.
- 40 mm bám bên trái.
- 40 mm kéo bên phải.
Tổng:
40 + 20 + 40 = 100 mm
Đây là cách kiểm tra rất nhanh tại công trường.
Có thể lấy chiều rộng khe nhân 2 để chọn băng không?
Không nên sử dụng quy tắc “băng rộng bằng hai lần chiều rộng khe” cho mọi trường hợp. Tỷ lệ này không kiểm soát được các vùng tối thiểu và trở nên đặc biệt bất hợp lý với các khe rất nhỏ hoặc rất lớn.
Ví dụ khe:
K = 5 mm
Nếu nhân 2:
B = 10 mm
Xâm nhập bên chỉ:
(10 – 5) / 2 = 2,5 mm
Rõ ràng là không thể chỉ dựa vào tỷ lệ 2 lần.
Ngắt lại, khe 50 mm:
B = 100 mm
cho vùng:
25 mm mỗi bên.
Hai trường hợp nhất áp dụng công thức “gấp đôi” nhưng các khu vực bám và điều kiện tải hoàn toàn khác nhau.
Vì vậy, cách dùng:
Khe rộng + vùng bám bên trái + vùng bám bên phải
thay thế một số cố định.
Khe rộng nên đo như thế nào?
Chiều rộng phải được xác định ở nhiều vị trí và trong giao diện trạng thái của công trình, vì khe thực tế thường không đều. Do đó, không nên đo một điểm rồi sử dụng giá trị đó cho toàn bộ tuyến đường kinh tế.
Ví dụ một panel có thể:
- Đầu xòe: 8 mm.
- Giữa: 12 mm.
- Cuối cùng: 16 mm.
Nếu thiết kế theo:
K = 8 mm
thì phần 16 mm có thể không đủ chỗ bám.
Nên xác định:
Kmax = chiều rộng tối đa có ý nghĩa trong lĩnh vực thi công
sau đó kiểm tra khả năng tiếp tục mở khi nhiệt độ hoặc tải thay đổi.
Đặc biệt cần chú ý:
- Bảng Khe.
- Khe tôn – tường.
- kim loại.
- Khe kết cấu.
- Mối liên kết giữa hai vật liệu khác nhau.
Việc chuyển ảnh có ảnh hưởng đến chiều rộng như thế nào?
Với khe chuyển động, không thể chọn băng rộng chỉ theo kích thước khe tại thời điểm thi công. Phải xem xét khả năng mở rộng, thu nhỏ hoặc chuyển đổi bao nhiêu trong quá trình sử dụng.
Giả:
Khe tại thời điểm công việc:
K0 = 10 mm
Khe có thể mở thêm:
ΔK = 5 mm
Khi nào cần đánh giá trạng thái:
Kmax = K0 + ΔK = 15 mm
Nếu vẫn sử dụng băng rộng 50 mm thì vùng bám dính của học khi mở rộng thành 15 mm vẫn:
A = (50 – 15) / 2 = 17,5 mm
Tuy nhiên, đây mới chỉ là tính toán hình học.
Băng vẫn phải có khả năng chuyển động mà không:
- Bong mép.
- Rách.
- Công ty
- Nhăn quá mức.
- Phân lớp.
- Mất kín nước.
Do đó, với khả năng chuyển động lớn, băng thông rộng không thể thay thế công việc kiểm tra dạng biến thể của sản phẩm chính .
Có phải băng càng rộng càng tốt?
Không. Tăng chiều rộng thường làm tăng diện tích liên kết nhưng không tự động giải quyết mọi nguyên nhân gây khó chịu. Nếu nền, lớp sơn yếu hoặc khe chuyển động vượt qua khả năng của vật liệu thì sử dụng băng rộng hơn vẫn có thể thất bại.
Ví dụ:
Chiều rộng 150 mm → dán trên lớp sơn đang bong
Khi đó cấu trúc là:
Băng keo → sơn yếu → kim loại
Băng có thể bám rất chắc vào sơn nhưng cả hệ vẫn bong ra khỏi kim loại.
Tương tự:
Băng rộng + bê tông bở
không tạo liên kết bền vững.
Vì vậy, chiều rộng chỉ là một biến số của thiết kế kinh tế .
Bề mặt ảnh hưởng nào đến các vùng cần thiết?
Bề mặt càng khó bám hoặc không đồng đều thì việc duy trì một vùng liên kết ổn định quan trọng hơn. Tuy nhiên, không nên tự động tăng cường một số cố định cho mọi loại nền cần thử trên vật liệu thực tế.
Tôn sạch và ổn định
Bên cạnh tương đối giúp lớp keo tiếp xúc thuận lợi hơn.
Tôn cũ
Có thể tồn tại:
- Rỉ.
- Sơn Hóa.
- .
- Đỗ phủ suy giảm.
Phần nhìn rộng 30 mm chưa chắc chắn toàn bộ 30 mm đều là vùng bám hữu hiệu .
Bê tông
Hoàn thường:
- X-p.
- Nhám.
- Có bụi xi măng.
- Không đồng đều.
Vì vậy cần phải xử lý nền trước khi tính đến việc tăng chiều rộng công việc.
Sơn điện
Khả năng phụ thuộc vào:
- Công thức sơn.
- Độ Tr.
- Chất phụ gia bề mặt.
- Tình trạng lớp sơn.
Đây là lý do nên thực hiện kiểm tra độ bám dính của băng keo tại công trườngtrước khi khai triển rộng rãi.
Cách tính băng rộng cho khe trượt
Nếu không thể đặt khe chính xác, phải tính toán riêng các vùng bám A1 và A2 thay vì sử dụng công thức xứng đáng. Đây là vấn đề thường gặp ở góc tường, chân tường, viền tấm hoặc vị trí có vật cản.
Công thức:
B = K + A1 + A2
Ví dụ:
Khe rộng:
K = 15 mm
Một phương chỉ có thể tạo vùng bám:
A1 = 20 mm
Xơ còn lại dự kiến:
A2 = 40 mm
Khi đó:
B = 15 + 20 + 40 = 75 mm
Điều quan trọng là phải kiểm tra xem 20 mm ở bên chế độ có thực sự đủ cho hệ thống và điều kiện sử dụng hay không .
Không thể lấy phần dư ở bên kia để mặc định bù hoàn toàn cho một bên quá thu gọn.
Cách tính chiều rộng băng cho mối nối mái tôn
Với mối nối mái tôn, chiều rộng băng phải bao phủ vùng có nguy cơ xâm nhập và vẫn còn đủ diện tích bám trên phần tôn ổn định hai bên. Không nên chỉ định đường nhìn được tìm thấy K nếu nước có thể đi qua một vùng mí rộng hơn.
Ví dụ:
Đường nhìn được nhìn thấy chỉ:
5 mm
Nhưng vùng chồng mí hoặc vùng cần được thực hiện kín:
25 mm
Khi đó nên sử dụng:
K = 25 mm
thay vì 5 mm trong bộ sơ đồ tính toán.
Nếu cần có vùng bám 30 mm mỗi bên:
B = 25 + 30 + 30 = 85 mm
Khi lựa chọn đau đớn thương mại có thể xem xét rủi ro gần nhất lớn hơn phù hợp với cấu hình thực tế.
Đây cũng là lý do khi xử lý thoải mái, cần xác định đúng đường nước trước khi lựa chọn băng keo chắc chắn.
Cách tính băng rộng cho bảng điều khiển
Với khe panel, chiều rộng băng phải được tính từ vùng khe cần che cộng dồn trên lớp mặt panel ở cả hai bên, đồng thời phải kiểm tra động nhiệt. Panel có thể mở rộng và thay đổi chiều rộng trong ngày.
Ví dụ:
Khe lớn nhất dự kiến:
Kmax = 20 mm
Tuân theo thiết kế ở mỗi khu vực:
A = 35 mm
rộng hình học:
B = 20 + 2 x 35 = 90 mm
Nếu độ dốc phù hợp tiếp theo là 100 mm:
B chọn = 100 mm
Khi khe giữa, vùng bám thực tế:
A = (100 – 20) / 2 = 40 mm
Nhưng vẫn phải thử nghiệm khả năng băng thông cho hoạt động của bảng điều khiển.
Với dạng kết nối này, bạn có thể tham khảo thêm hướng dẫn sử dụng bảng điều khiển nhiệt độ bền bỉtrước khi xác định cấu hình cuối cùng.
Cách tính băng cho tôn giáo tiếp giáp khung thép
Khe tôn – thép khung thường cần tính riêng các vùng bám trên từng vật liệu vì hai bên có thể khác nhau về hình học, lớp phủ và khả năng bám. Công thức B = K + A1 + A2 phù hợp hơn công thức xứng đáng.
Ví dụ:
- Khe cần che: 10 mm.
- Xoáy trên tôn: 30 mm.
- Góc trên thép: 40 mm.
Ta có:
B = 10 + 30 + 40 = 80 mm
Có thể chuyển đổi giá trị 100 mm nếu cấu hình và sản phẩm thực tế phù hợp.
Nhưng cần lưu ý:
Tôn sơn và khung thép sơn không có khả năng bám dính tốt nhất.
Phải kiểm tra cả hai giao diện.
Cách tính chiều rộng cho góc 90 độ
Ở góc 90 độ, không nên lấy chiều rộng rồi cộng dồn các vùng như trên một vật thể duy nhất. Cần tính toán băng thông theo tổng chiều dài phải chạy trên cả hai mặt.
Ví dụ cần:
- Bám mặt đứng: 40 mm.
- Đi qua vùng góc: 10 mm.
- Bám mặt ngang: 40 mm.
rộng rãi sơ bộ:
B = 40 + 10 + 40 = 90 mm
Khi đó có thể xét giá 100 mm.
Nhưng góc còn phải kiểm tra:
- Có một góc không được an toàn.
- Có tạo nếp không.
- Lớp trang bị quá cứng.
- Bản sao có thể được kéo lên.
Vì vậy:
Chưa đủ chiều rộng để tạo hình.
Chiều rộng ảnh ảnh hưởng đến Peel như thế nào?
Rộng hơn có thể tăng tổng diện tích liên kết, nhưng bong viền vẫn thường bắt đầu tại vùng chịu Peel tập trung. Do đó, tăng chiều rộng không loại bỏ nhu cầu kiểm soát viền.
Nếu mép rút đầu bong:
Mép nâng cao → lực Peel tập trung → vùng bong bóng phát triển
Đặc biệt ở:
- Đầu băng.
- Góc.
- Transfer point.
- Ảnh hưởng.
- Điểm nước tác động.
Khi tính chiều rộng cần kết hợp với việc ép kỹ viền và xử lý bề mặt.
Có thể xem thêm bài Peel Strength là gì? Vì sao quan trọng với băng keo xây dựng?để hiểu vì sao diện tích lớn không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ bong từ viền.
Chiều rộng ảnh có ảnh hưởng đến khả năng chuyển động không?
Có, nhưng mối quan hệ không đơn giản là băng rộng gấp đôi thì chịu chuyển động gấp đôi. Khả năng chịu chuyển động còn phụ thuộc vào độ giãn, độ mềm, chiều dày, lớp nền và cấu hình lớp keo.
Băng băng đều rộng 100 mm:
Băng A: lớp cứng.
Băng B: cấu trúc phần mềm và dễ nghi.
Khi khe <
Băng A có thể tập trung thực hiện gần khe.
Băng B có thể phân chia dạng biến trên vùng rộng hơn.
Làm điều đó để xử lý chuyển động:
Chiều rộng + vật liệu cấu trúc + độ giãn + độ bám
phải được xem cùng nhau.
Có nên băng toàn bộ bộ nhớ xuống đáy khe không?
Không phải tất cả các cấu hình đều phải được tạo ra nên để ghi vào phần cứng liên kết trên toàn bộ khe. Với khe có chuyển động, việc băng dính trực tiếp vào đáy hoặc vùng giữa có thể thay đổi cách thức truyền tải vào lớp băng.
Cần phải đặc biệt:
Khe
Chuyển động rất nhỏ.
Mục tiêu chủ yếu là che kín đường nước.
Khe chuyển
Hai bên có thể chuyển đổi tương thích.
Lúc này phải xem cấu hình tạo băng và hướng dẫn kỹ thuật của hệ vật liệu.
Không nên tự suy nghĩ rằng:
Dán càng nhiều tích hợp càng tốt.
Trong một số cấu hình, vấn đề quan trọng là cho phép phân vùng giữa các hoạt động chuyển động khi hai liên kết biên duy trì .
Bảng tính băng rộng nhanh theo vùng
Bảng bên dưới minh họa rõ ràng cách tính toán học theo công thức B = K + 2A, không phải bảng quy định chiều rộng bắt buộc. Khu vực tập trung phải được xác định theo sản phẩm và điều kiện.
| Khe K | Xâm nhập bên A | B tính toán |
|---|---|---|
| 5 mm | 20 mm | 45 mm |
| 10 mm | 20 mm | 50 mm |
| 10 mm | 25 mm | 60 mm |
| 15 mm | 25 mm | 65 mm |
| 20 mm | 25 mm | 70 mm |
| 20 mm | 30 mm | 80 mm |
| 30 mm | 30 mm | 90 mm |
| 40 mm | 30 mm | 100 mm |
| 50 mm | 40 mm | 130 mm |
Ví dụ kết quả được tính toán:
B = 65 mm
nhưng nhà cung cấp có:
- 50 mm.
- 75 mm.
- 100 mm.
thì không nên giảm xuống 50 mm chỉ vì rẻ hơn.
Có thể đánh giá:
75 mm
và kiểm tra lại vùng bám dính.
Lựa chọn băng thông sau khi tính toán
Sau khi tính toán ở mức tối thiểu, nên chọn băng thông thương mại bằng hoặc lớn hơn giá trị tính toán thay vì làm tròn xuống. Sau đó, cần phải kiểm tra lại khả năng của công cụ đã chọn.
Ví dụ:
B tính = 62 mm
Khổ có sẵn:
- 50 mm.
- 75 mm.
- 100 mm.
Lựa chọn hồ sơ:
75 mm
Không chọn:
50 mm
Với:
50 < 62 mm
Sau khi chọn 75 mm, hãy quét ngược lại vùng bám để kiểm tra.
Nếu khe 12 mm:
A = (75 – 12) / 2 = 31,5 mm
khi khe nằm chính giữa.
Làm thế nào để thay đổi chiều rộng trên cùng một tuyến?
Khi thay đổi chiều rộng, nên thiết kế theo vùng lợi ích bất chấp ý nghĩa thay vì chỉ sử dụng kích thước trung bình. Giá trị trung bình có thể che giấu một đoạn rộng rãi làm cho vùng chứa bị thu hẹp.
Ví dụ đo được:
- 8 mm.
- 9 mm.
- 11 mm.
- 18 mm.
- 10 mm.
Trung bình:
11,2 mm
Nhưng nếu chọn băng dựa trên 11,2 mm thì đoạn 18 mm có vùng bám nhỏ hơn dự kiến.
Do đó cần xem:
Kmax = 18 mm
và xác định vì đoạn này rộng hơn.
Nếu đó là điều bất ngờ xảy ra:
- Tôn biến dạng.
- Liên kết kết hợp.
- Kết cấu chuyển.
thì cần phải xử lý nhân trước khi chỉ tăng băng rộng.
Có cần cộng thêm toàn bộ số không?
Do đó, không nên tự động áp dụng một số cố định toàn bộ cho mọi loại băng keo nếu chưa có dữ liệu của hệ thống. Cách phù hợp hơn là xác định khu vực tuân theo yêu cầu, trạng thái lớn nhất và thử mẫu thực tế.
Có thể xây dựng logic:
Thiết kế B ≥ Kmax + A1 + A2
Sau đó kiểm tra:
- Làm mặt.
- Nhiệt.
- Nước.
- Tia cực tím.
- Chuyển.
- Bóc.
- Đơn giản.
- Hạt.
Với công trình quan trọng, nên thực hiện thử nghiệm băng keo kinh tếtrước khi phát triển khai báo toàn bộ.
Đây là bước xác thực quan trọng hơn tùy chọn cộng 10%, 20% hoặc 30% theo chiều rộng.
Ví dụ tính toán hoàn chỉnh
Một ví dụ đầy đủ nên bắt đầu từ kích thước lớn nhất, xác định thiết bị bám theo vùng cần xác định và chọn thương mại mới. Sau đó phải thử mẫu để xác nhận chứ không phát triển toàn bộ công trình chỉ dựa trên tính năng được phép.
Giả:
Khe panel bị:
- Nhỏ nhất: 8 mm.
- Trung bình: 12 mm.
- Lớn nhất: 18 mm.
Chọn:
Kmax = 18 mm
Giải thích sử dụng phương pháp kỹ thuật cần đánh dấu các vùng:
A = 30 mm mỗi bên
Tính:
B = 18 + 30 + 30
B = 78 mm
HẠ thương:
- 50 mm.
- 75 mm.
- 100 mm.
50 mm không đủ.
75 mm nhỏ hơn B tính toán.
Chọn sơ nảy:
100 mm
Tính lại vùng bám khi khe 18 mm:
A = (100 – 18) / 2
A = 41 mm
Việc tạo cấu hình thực tế như vậy là:
41 mm bám + 18 mm khe + 41 mm bám = 100 mm
Sau đó cần thử:
- Độ.
- Bong mép.
- Nước.
- Nhiệt.
- Hạt.
- Chuyển động khe.
Nếu mẫu đạt, mới có cơ sở tốt hơn để phát triển khai báo.
Những sai sót khi tính băng keo rộng rãi
Sai lớn nhất là lấy chiều rộng để làm thông số duy nhất để chọn băng thông. Điều này bỏ qua các khu vực bám, chuyển động, bề mặt và tải các tác động lên mối dán.
Select acrople only vừa đủ khe
Không còn toàn bộ khu vực.
Get nhân chiều rộng
Không phù hợp với mọi kích thước.
Đo khe tại một điểm
Không phản ánh Kmax.
Không tính chuyển
Khe có thể mở rộng sau khi thực hiện công việc.
Có toàn bộ băng rộng tích lũy
Phần trên khe không phải liên kết với nền.
luôn đặt khe giữa băng thông
Không thể thực hiện được ở một số góc và vị trí giáp tiếp theo.
Tăng cường tăng cường để bù đắp nền xấu
Không thể giải quyết được sơn lớp bong hoặc bê tông bở.
Làm vòng tròn xuống
Có thể làm phân vùng thấp hơn thiết kế.
Không thử mẫu
Phép tính học học không có khả năng thực tế.
Quy định về băng keo chiều rộng thực tế tại công trình
Bạn nên bắt đầu bằng cách đo lường và đánh giá bề mặt, sau đó mới tính chiều rộng, chọn sai thương mại và thử mẫu. Không nên đảo ngược bằng cách tải băng thông rồi cố gắng áp dụng cho mọi khe.
Bước 1: Xác định vùng cần thiết
Không chỉ đường nhìn.
Bước 2: Đo nhiều vị trí
Xác định Kmax.
Bước 3: Xác định khe tĩnh hoặc chuyển động
Đây là bước quan trọng.
Bước 4: Kiểm tra bề mặt của hai mặt hàng
Tôn, panel, thép, bê tông hoặc vật liệu khác.
Bước 5: Xác định A1 và A2
Theo cấu hình, hệ thống băng và thử nghiệm.
Bước 6: Tính B
B = K + A1 + A2
Bước 7: Chọn đau thương
Không làm tròn xuống dưới B thiết kế.
Bước 8: Tính ngược vùng bám
Kiểm tra lại quá trình tạo cấu hình.
Bước 9: Thử mẫu
Trên đúng vật liệu.
Bước 10: Thử nước và nhiệt
Không chỉ bóc bằng tay.
Bước 11: Kiểm tra chuyển động nếu có
Đặc biệt với panel và kim loại ngoài trời.
Bước 12: Cố chịu đựng trước khi phát triển khai
Unknown trong quy trình thi công.
Danh sách kiểm tra trước khi băng rộng
Băng thông có kích thước chỉ cần được chốt khi đã xác định được khe, vùng bám và điều kiện sử dụng thực tế. Danh sách kiểm tra dưới đây giúp tránh lựa chọn băng chỉ theo cảm tính.
- Đã xác định đúng vùng nước có thể xâm nhập.
- Đã đo ở nhiều điểm.
- Đã xác định Kmax.
- Đã xem khe chuyển động.
- Bên trái dữ liệu được xác định rõ ràng.
- Phải xác định vật liệu bên phải.
- Đã kiểm tra lớp sơn.
- Đã kiểm tra giao dịch.
- Đã kiểm tra độ ổn định của nền.
- Đã xác định A1.
- Đã xác định A2.
- Đã tính B = K + A1 + A2.
- Đã chọn kích thước không nhỏ hơn B.
- Đã tính toán lại vùng thực tế.
- Đã kiểm tra một góc.
- Đã kiểm tra khả năng chịu nhiệt.
- Đã xem xét bong mép.
- Đã thử mẫu trên vật liệu thực.
- Đã thử nước.
- Đã kiểm tra sau nhiệt độ hoặc chuyển động.
Khi nào thì không nên chỉ sử dụng keo để xử lý khe?
Không cần thiết cũng có thể giải quyết bằng cách tăng chiều rộng băng keo. Nếu quá lớn, chuyển động mạnh, mất ổn định nền tảng hoặc liên tục biến dạng cấu hình, cần phải đánh giá toàn bộ giải pháp một cách kín đáo.
Cần trọng khi:
- Khe tiếp tục chạy.
- Hai vật liệu được chuyển lớn.
- Tôn biến dạng mạnh.
- Tấm panel.
- Exected file activate.
- Sơn bong.
- Kim loại nặng.
- Có nước áp lực.
- Không thể tạo ổn định vùng.
Trong các trường hợp này:
Băng rộng hơn không có nghĩa là vấn đề đã được giải quyết.
kết luận
Băng keo chiều rộng phải được tính toán dựa trên chiều rộng và khu vực bám cần thiết ở bên trong, thay vì chỉ chọn băng đủ để giữ kín phần nhìn thấy.
Công thức cơ sở:
B = K + A1 + A2
Nếu hai bên đối diện:
B = K + 2A
Trong đó:
K = vùng chiều rộng cần che
A = vùng bám trên mỗi bên
Sau khi tính toán, cần phải chọn mức độ phù hợp thương mại và kiểm tra lại quá trình sử dụng:
Bề mặt thực tế + thử cố gắng + thử nước + nhiệt + chuyển động.
Đặc biệt với khe tôn, mái tôn và mối nối kim loại ngoài trời, phép tính chiều rộng chỉ là bước thiết kế ban đầu; thử mẫu thực tế mới là bước xác nhận trước khi phát triển giao diện mở rộng.
Câu hỏi thường gặp
Cách tính toán băng thông rộng như thế nào?
Băng keo chiều rộng có thể tính toán sơ bộ theo công thức B = K + A1 + A2, trong đó K là chiều rộng khe và A1, A2 là vùng bám cần thiết trên hai bề mặt.
Khe rộng 10 mm nên sử dụng bao nhiêu băng rộng?
Không thể xác định chỉ từ 10 mm. Nếu cần vùng bám 25 mm mỗi bên thì B = 10 + 25 + 25 = 60 mm; sau đó chọn phù hợp thương mại và thử mẫu.
Có phải băng càng rộng càng tốt?
Không. Rộng hơn tăng diện tích liên kết nhưng không giải quyết được bề mặt vết thương, lớp sơn yếu, chuyển động quá lớn hoặc hệ keo không phù hợp.
Phần băng nằm trên khe có thể được tính là vùng bám không?
Không. Phần nằm ở khoảng trống không tạo liên kết với bề mặt bên dưới, nên không nên tính toán vào vùng bám bên trong.
Chuyển động có sử dụng công thức B = K + 2A không?
Có thể sử dụng để tính toán đầu học, nhưng phải bổ sung thêm giá trị chuyển động của khe và khả năng biến đổi của băng. Kích thước lớn hơn không đảm bảo được chuyển lớn.
Có cần thử mẫu sau khi tính băng rộng không?
Có. Thử nghiệm mẫu trên vật liệu phù hợp giúp kiểm tra độ bám, bong viền, khả năng chống nước, nhiệt độ, co rút và chuyển động trước khi thi công toàn bộ quá trình.
